Untitled Document
Thứ ba, 19/12/2017

tiếng anh doanh nghiệp, tiếng anh cho người đi làm, tiếng anh cho người mới bắt đầu

  Untitled Document 
Trang ChủGiới thiệuThời sự Y họcChính sách Y tếHoạt động KH & ĐTBạn cần biếtHoạt động bệnh viện
Untitled Document 
Trong nướcQuốc tếChuyên đề Y học
Untitled Document 
Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp triển khai thành công kỹ thuật cắt tử cung nội soi
Báo cáo nhân một trường hợp bệnh thiếu máu FANCONI
Cải tiến quy trình: Nâng cao hiệu suất và giảm thời gian chờ đợi phẫu thuật
Cân bằng chế độ dinh dưỡng để có sức khỏe sau tết
Bệnh phổi do nhiễm ấu trùng sán chó (Pulmonary Cystic Echinococcosis)
Sự gia tăng Đái tháo đường trong hầu hết phân nửa bệnh nhân sử dụng thuốc nhóm STATIN
Chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ
Cẩn thận khi cho người già uống thuốc
Ứng dụng tế bào gốc trị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính
Các biểu hiện ngoài da ở người bệnh đái tháo đường

SpO2, Dấu hiệu sinh tồn thứ 5

BSCK1.Trần Tấn Hiếu
Khoa Hồi sức tích cực & chống độc
 – BVĐK Tỉnh Đồng Tháp

       Chúng ta đều biết đến khí Oxy và sự quan trọng như thế nào của nó đối với sự sống trên Trái đất. Từ một phần tư cuối thế kỷ trước, các nhà khoa học đã dựa vào quy luật của quang phổ kế và so màu để chế tạo nên thiết bị có khả năng đánh giá khí oxy trong máu của con người một cách không xâm lấn. Kết quả đo được là độ bão hòa Oxy trong máu: SpO2 (đọc là “sếch bê ô hai”). Bài viết này sẽ trình bày một số vấn đề thú vị mà có thể bạn chưa biết về SpO2.

I.Dấu hiệu sinh tồn (Vital signs):                           

Dấu hiệu sinh tồn là những con số được đo bằng các thiết bị, kỷ thuật khác nhau nhẩm đánh giá những chức năng cơ bản của cơ thể sống. Dấu hiệu sinh tổn là thứ không thể thiếu trong bệnh án và khi tiến hành trình bày bất vấn đề gì về bệnh nhân.

Có 4 dấu hiệu sinh tồn truyền thống sau: mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở. Với sự phát triển của y học, ngày nay người ta đã bàn nhiều về 1 dấu hiệu sinh tồn mới.

II. SpO2 LÀ GÌ:

Khí oxy rất cần cho sự sống của loài người. Khí oxy có trong khí trời. Khi chúng ta thở oxy sẽ vào phổi. Máu mà thành phần quan trọng nhất của máu là Hemoglobine (Hb) sẽ vận chuyển oxy từ phổi đến các nơi cần thiết trong cơ thể để đảm bảo sự sống. Sự vận chuyển đó xảy ra khi Hb kết hợp với oxy thành HbO2.

Tỷ lệ HbO2/ (HbO2+Hb) gọi là độ bão hòa oxy trong  máu SpO2, nói cách khác là tỷ lệ phần trăm hemoglobine của máu kết hợp với Oxy.

III. LỊCH SỬ CỦA KỶ THUẬT KHẢO SÁT SpO2:

Lịch sử y học có từ thời đại thần thoại Hy Lạp;  nhưng mãi đến năm 1935, với sự phát minh ra thiết bị thô sơ đầu tiên dựa vào 2 bước sóng chính là đỏ và xanh dương đặt ở dáy tai dùng để đo SpO2, Matthes được nhắc đến như người đầu tiên đã tìm ra phương pháp khảo sát oxy trong máu.

Đến năm 1949, Wood đã phát triển thêm kỷ thuật trên bằng cách đưa vào đó 1 thiết bị có khả năng cảm biến với mạch đập. Nhưng sau đó, kỷ thuật này đã bị đình trệ lại vì ký do kinh phí. Mãi đến khi tập đoàn Nihon Kohden nhúng tay vào, năm 1972, Aoyagi đã chính thức cho ra đời máy đo oxy dựa vào mạch đập (Pulse oxymetri).

Đến năm 1987, máy đo oxy dựa vào mạch đập đã được sử dụng rộng rãi ở các phòng gây mê Mỹ. Vài năm sau, SpO2 trở nên phổ biến khắp thế giới.

IV. MÁY ĐO OXY:

  1. Máy đo Oxy trước đây:

  Máy đo Oxy tại giường đầu tiên sử dụng đầu dò kẹp vào dái tai. Một thiết bị ở 1 bên của đầu dò phát ra ánh sáng đỏ (660nm) và tím (940nm) xuyên qua dái tai đến thiết bị nhận sáng bên đối diện, tại đây nó sẽ khuếch đại ánh sáng vừa được truyền qua. Mục đích là đo HbO2 ở trong các mao quản nhỏ của dái tai.

Thiết bị này vấp phải 2 nhược điểm: 1. Sự dẩn truyền ánh sáng qua dái tai bị ảnh hưởng bởi các yếu khác ngoài Hb như sắc tố da.  2. Nó không phân biệt được HbO2 nào là của động mạch, HbO2 nào là của tĩnh mạch.

  1. Máy đo Oxy dựa vào mạch đập (Pulse Oximetry)

  Sự ra đời của máy đo Oxy dựa vào mạch đập vào giữa năm 1970 đã loại bỏ những nhược điểm của máy đo oxy trước đây. Điểm đặc biệt của máy đo Oxy dựa vào mạch đập là bộ phận tiếp nhận ánh sáng chỉ nhận các sóng ánh sáng có cường độ dao động. Đầu dò của nó sẽ đặt quanh ngón tay. Điều này cho phép máy đo oxy dựa vào mạch đập chỉ phát hiện ra các Hb của động mạch và nó làm giảm hoặc loại bỏ những sai sót tạo nên bởi sự hấp thu ánh sáng của những cấu trúc không có mạch đập như: mô liên kết và tĩnh mạch.

V. ĐỘ CHÍNH XÁC CỦA SpO2:

Độ bảo hòa Oxy đo được bằng máy đo Oxy dựa vào mạch đập (SpO2) thấp hơn khoãng 3% so với độ bảo hòa Oxy thực tế (SaO2). Thử nghiệm đo SpO2 nhiều lần liên tục trên 1 BN ổn định cho thấy kết quả không khác nhau, điều này chứng tỏ SpO2 cho một mức độ đáng tin cậy cao.

VI. SpO2 TRONG CÁC TÌNH HUỐNG KHÁC NHAU:

1. Ngộ độc CO

CO là một khí độc, có nhiều khi đốt than tổ ong. Trong đợt rét đậm vừa qua tại miền Bắc, đã có  nhiều nạn nhân ngộ độc khí CO để lại hậu quả nghiêm trọng.

CO thay thế Oxy ở vị trí gắn vào sắt trên phân tử Hb, cho nên ngộ độc CO sẽ làm tăng COHb và giảm HbO2. Đương nhiên sẽ làm giảm độ bảo hòa Oxy trong máu động mạch SaO2. Tuy nhiên, SpO2 cao hơn SaO2 do sự nhầm lẫn về bước sóng của máy đo Oxy dựa vào mạch đập.

Vì vậy, trong ngộ độc CO, SpO2 đo bằng máy đo Oxy dựa vào mạch đập không tin tưởng được. Khi đó, cần phải lấy máu động mạch gữi đến phòng xét nghiệm để đo SaO2 và COHb.

  1. Huyết áp thấp

  Mặc dù máy đo oxy dựa vào mạch đập dựa trên dòng chảy của máu khi mạch đập, nhưng SpO2 vẫn là một sự phản ánh chính xác của SaO2 khi áp lực mạch máu giảm thấp đến 30mmHg. Mạch mờ dần cũng không ảnh hưởng đến SpO2 đo từ ngón tay.

Trong các tình huống mà có sự giảm sút nghiêm trọng ở tuần hoàn ngoại vi, SpO2 đo ở ngón tay có thể bị nghi ngờ. Lúc bấy giờ, sẽ sữ dụng đầu dò dán lên trán. Đầu dò này khác với đầu dò ngón tay vì nó vừa phát ra tia sáng vừa nhận về tia sáng phản xạ từ da (quang phổ kế phản xạ). Đầu dò ở trán đáp ứng nhanh hơn với sự thay đổi SpO2 so với đầu dò ngón tay và có thể nó sẽ dần thay thế các đầu dò truyền thống.

  1. Thiếu máu

  Thiếu máu tức là Hemoglobine trong máu giảm thấp hơn bình thường. Khi không có giảm Oxy máu, máy đo Oxy dựa vào mạch đập cho kết quả SpO2 vẫn chính xác khi nồng độ Hb giảm 2-3g/dL. Nếu thiếu máu nghiêm trọng hơn ( Hb từ 2.5 - 9 g/dL), SpO2 đo được sẽ thấp hơn SaO2 khoãng 0.5%.

5. Sắc tố da

Ảnh hưởng của sắc tố da đối với SpO2 thì khác nhau ở các báo cáo. Ở BN da sậm màu, trong một nghiên cứu, SpO2 thấp giả tạo; trong khi đó, ở một nghiên cứu khác, SpO2 cao giả tạo (SpO2-SaO2=3.5%) khi SaO2 thấp hơn 70%.

Độ bóng của móng tay cũng ảnh hưởng ít đến SpO2, khi móng tay sơn màu đen hay nâu SpO2 sẽ thấp hơn 2% so với SaO2, nhưng ảnh hưởng này có thể được loại bỏ bằng cách mắc đầu dò ở 2 bên của ngón tay.

Yếu tố có ảnh hưởng nhất  đến SpO2 đó là xanh methylene. Nó sẽ làm giảm SpO2 đến 65% khi tiêm xanh methylene vào tĩnh mạch. Vì rằng xanh methylene được dùng để chữa bệnh Methemoglobin cho nên không dùng SpO2 cho các BN bị bệnh Methemoglobine.

6. Phát hiện giảm thông khí:

Thử nghiệm lâm sàng cho thấy SpO2 là một dấu hiệu nhạy cho việc đánh giá tình trạng thông khí khi BN đang thở khí trời nhưng khi BN được thở Oxy hổ trợ thì không.

Khi SpO2 (hoặc SaO2) trên 90%, PaO2 (áp lực riêng phần của Oxy trong máu động mạch) trên 60mmHg; đường cong thể hiện sự gia tăng của SpO2 theo PaO2 bắt đầu dẹt, và sau đó sự gia tăng mạnh của PaO2 chỉ ảnh hưởng ít đến sự gia tăng của SpO2. Thở Oxy sẽ đẩy đường cong tăng của SpO2 theo PaO2 càng dẹt hơn (SpO2 luôn trên 98% khi thở Oxy), từ đó dù PaO2 có thay đổi lớn đi nữa thì cũng ít ảnh hưởng đến SpO2.

Có xu hướng sử dụng Oxy một cách rộng rãi trong ICU (và đơn vị hồi sức sau gây mê) thậm chí khi SpO2 trên 90%. Bởi vì chưa có tài liệu nào chứng minh lợi ích của việc phải đưa SpO2 lên trên 90%, nên việc cho thở Oxy cần được hạn chế khi SpO2 của BN đã trên 92% khi thở khí trời. Điều này sẽ tránh được việc ngộ độc Oxy và sẽ bảo tồn được độ nhạy của SpO2 trong việc đánh giá thông khí không thích hợp.

VII. KẾT LUẬN

Khi nào cần đo SpO2?  Đặt câu hỏi khi nào không sử dụng SpO2 thì có vẻ hợp lý hơn vì SpO2 giờ đây đã được xem như là dấu hiệu sinh tồn thứ 5 bên cạnh: mạch, huyết áp, nhiệt độ, nhịp thở.









Các bài viết liên quan
PDCT: Một phương pháp mới điều trị thoát vị đĩa đệm
SpO2, Dấu hiệu sinh tồn thứ 5
Quan điểm hiện nay trong đánh giá tuổi thai
Các bài viết khác
PDCT: Một phương pháp mới điều trị thoát vị đĩa đệm
SpO2, Dấu hiệu sinh tồn thứ 5
Giới thiệu Phần mềm Thống kê Y học DCALC