Untitled Document
Thứ bảy, 21/04/2018

tiếng anh doanh nghiệp, tiếng anh cho người đi làm, tiếng anh cho người mới bắt đầu

  Untitled Document 
Trang ChủGiới thiệuThời sự Y họcChính sách Y tếHoạt động KH & ĐTBạn cần biết
Untitled Document 
Trong nướcQuốc tếChuyên đề Y học
Untitled Document 
Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp triển khai thành công kỹ thuật cắt tử cung nội soi
Báo cáo nhân một trường hợp bệnh thiếu máu FANCONI
Cải tiến quy trình: Nâng cao hiệu suất và giảm thời gian chờ đợi phẫu thuật
Cân bằng chế độ dinh dưỡng để có sức khỏe sau tết
Bệnh phổi do nhiễm ấu trùng sán chó (Pulmonary Cystic Echinococcosis)
Sự gia tăng Đái tháo đường trong hầu hết phân nửa bệnh nhân sử dụng thuốc nhóm STATIN
Chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ
Cẩn thận khi cho người già uống thuốc
Ứng dụng tế bào gốc trị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính
Các biểu hiện ngoài da ở người bệnh đái tháo đường

Lựa chọn STATIN trong kiểm soát LIPID huyết theo ACC/AHA 2013

Ths. DS Nguyễn Hữu Nhân Tâm

Năm 2013, Trường môn tim mạch Mỹ và hiệp hội tim mạch Mỹ (American College of Cardiology/American Heart Asscociation - ACC/AHA) đã ban hành khuyến cáo mới nhất về kiểm soát cholesterol máu để giảm nguy cơ bệnh tim mạch do xơ vữa ở người lớn.

1. Theo khuyến cáo ACC/AHA 2013 có bốn nhóm bệnh nhân được hường lợi khi dùng statin

Nhóm 1: Bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng bệnh tim mạch xơ vữa động mạch (XVĐM) như tiền sử nhồi máu cơ tim cấp, đau thắt ngực ổn định/không ổn định, hội chứng mạch vành cấp, tiền sử tái tưới máu động mạch vành, tiền sử đột quỵ hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua, bệnh động mạch ngoại vi do XVĐM.

Nhóm 2: : Bệnh nhân có chỉ số LDL-C ≥ 190 mg/dL.

Nhóm 3: : Bệnh nhân đái tháo đường, tuổi 40 - 75 có LDL-C: 70 - 189 mg/dL

Nhóm 4: Bệnh nhân 40-75 tuổi có LDL-C 70 - 189 mg/dL và nguy cơ bệnh tim mạch do XVĐM 10 năm ≥ 7,5%.

Đối với nhóm bệnh nhân có nguy cơ 5 - 7,5%, nguy cơ < 5%, tuổi <40 hay >75 cần cân  nhắc yếu tố phụ để quyết định trị liệu. Các yếu tố phụ bao gồm: LDL-C ≥160 mg/Dl, tăng lipid máu thể di truyền, tiền sử gia đình có bệnh tim do XVĐM sớm (cha < 55 tuổi, mẹ < 65 tuổi), CRP nhạy cảm cao ≥2 mg/dL, chỉ số canxi hóa mạch vành (CAC score - Coronary artery calcium score) ≥300 đơn vị Agaston hay ≥75% theo tuổi, giới, chủng tộc, chỉ số huyết áp cổ chân cánh tay < 0,9, nguy cơ bệnh tim do XVĐM suốt đời cao.

Ngoài ra, cân nhắc dùng statin còn dựa trên hiệu quả làm giảm nguy cơ bệnh tim do XVĐM, phản ứng có hại, tương tác thuốc, sự lựa chọn của bệnh nhân.

Không khuyến cáo dùng statin cho bệnh nhân suy tim NYHA II-IV hoặc bệnh nhân lọc thận định kỳ.

2. Đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch do XVĐM dựa trên Pooled Cohort Risk Assessment Equations

Để đánh giá nguy cơ cần điền đầy đủ các thông tin: giới, tuổi, chủng tộc, cholesterol toàn phần, HDL-C, LDL-C, huyết áp tâm thu, điều trị tăng huyết áp, bệnh đái tháo đường không, hút thuốc lá.

 

(Nguồn: http://tools.cardiosource.org/ASCVD-Risk-Estimator/ )

Hình 2.1. Đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch do XVĐM dựa trên Pooled Cohort Risk Assessment Equations

3. Phân loại statin theo cường độ

ACC/AHA phân loại statin dựa trên khả năng làm giảm tỉ lệ phần trăm LDL-C so với mức ban đầu.

Statin liều cao: liều dùng hàng ngày làm giảm trung bình LDL-C ≥50%

Statin liều trung bình: Liều dùng hàng ngày làm giảm trung bình LDL-C: 30%≤ LDL-C <50%

Statin liều thấp: Liều dùng hàng ngày làm giảm trung bình LDL-C <30%.

 

Bảng 3.1. Phân loại statin theo liều

 

Statin và liều dùng in đậm đã được chứng minh làm giảm biến cố tim mạch trong các thử nghiệm lâm sàng phân nhóm ngẫu nhiên. Statin và liều dùng in nghiêng đã được FDA chấp thuận nhưng chưa được đánh giá trong các thử nghiệm lâm sàng. Liều atorvastatin 40mg chỉ được đánh giá trong một nghiên cứu duy nhất IDEAL: liều này được dùng nếu bệnh nhân không dung nạp liều 80 mg.

Nếu bệnh nhân không dung nạp statin liều cao và liều trung bình thì dùng statin liều thấp.

4. Sử dụng statin cho từng đối tượng cụ thể

 

Hình 4.1. Sử dụng statin cho từng nhóm bệnh nhân

 

5. Theo dõi điều trị statin

 

Hình 5.1. Theo dõi điều trị statin

(*) Đáp ứng với thuốc statin khi: LDL-C giảm ≥50% so với trước điều trị ở bệnh nhân đang dùng statin cường độ cao. Nếu không có LDL-C trước đó, chọn mục tiêu đích là LDL-C < 100mg/dL ở bệnh nhân dùng statin cường độ cao. LDL-C giảm 30% đến <50% so với trước điều trị ở bệnh nhân dùng statin cường độ trung bình.

(**) Trường hợp bệnh nhân không dung nạp statin

Đánh giá và điều trị triệu chứng bệnh cơ: đau cơ, cứng khớp, vọp bẻ, yếu cơ, mệt mỏi và xử trí theo hướng dẫn sau:

- Để tránh ngưng sử dụng statin không cần thiết, cần biết bệnh sử gây nên triệu chứng đau cơ trước khi bắt đầu uống statin.

- Nếu có triệu chứng cơ đau cơ và mệt mỏi nghiêm trọng trong khi uống statin, ngưng sử dụng statin và xem xét khà năng bị tiêu cơ vân bằng cách đánh giá CK, creatinin, phân tích myoglobin trrong nước tiểu.

- Nếu triệu chứng đau cơ nhẹ - trung bình trong lúc điều trị statin:

* Ngưng uống statin cho đến khi các triệu chứng được kiểm tra

* Kiểm tra các nguy cơ tổn thương cơ: suy giáp, giảm chức năng gan thận, đau đa cơ do thấp khớp (polymyalgia rheumatica), đau cơ do steroid (steroid myopathy), thiếu hụt vitamin D.

* Nếu không có chống chỉ định và các triệu chứng cơ được cải thiện, cho bệnh nhân dùng thuốc satin ban đầu với liều bằng hoặc thấp hơn hoặc để đánh giá nguyên nhân gây đau cơ có phải do statin.

* Nếu xác định đau cơ do statin, ngưng sử dụng statin này. Khi tình trạng đau cơ cải thiện, dùng statin khác với liều thấp.

* Khi bệnh nhân dung nạp với liều thấp statin, tăng liều dần dần dựa trên mức độ dung nạp của bệnh nhân.

* Nếu sau 2 tháng ngưng uống statin, triệu chứng đau cơ và mức CK không được cải thiện hoàn toàn, xem xét các nguy cơ gây tổn thương cơ được liệt kê ở trên.

Tài liệu tham khảo

Stone NJ, et al. (2013), ACC/AHA Guideline on the Treatment of Blood Cholesterol to Reduce Atherosclerotic Cardiovascular Risk in Adults. 

 

 

 









Các bài viết liên quan
Tin vui cho bệnh nhân bị ung thư gan
Phụ nữ uống càfê có nguy cơ đột quỵ thấp hơn phụ nữ không hề uống càfê
Thiết bị PREVUE cung cấp cho cha mẹ một cửa sổ nhìn thai nhi với hình ảnh 4D trực tiếp
Các bài viết khác
PDCT: Một phương pháp mới điều trị thoát vị đĩa đệm
SpO2, Dấu hiệu sinh tồn thứ 5
Giới thiệu Phần mềm Thống kê Y học DCALC